KIA Carens 2010

  • Dung tích: 2.0 - 2.0 - 2.0 lít
  • Từ: 574 triệu VNĐ
Ước tính vay Ngân hàng Tổng tiền phải trả
  • Thành viên cho điểm
  • danhgiaXe cho điểm

Giới thiệu chung

Một số ít nhập khẩu về Việt Nam trong những năm 2007, 2008, mẫu xe 7 chỗ của Kia đã nhận được phản hồi tích cực từ thị trường. Thaco chính thức đưa Carens lên chuyền lắp ráp trong nước từ đầu năm 2009. Và trong các năm sau đó, Carens trở thành một lựa chọn đáng lưu tâm trong dòng xe gia đình: mẫu mã mới, giá rẻ, chi phí sử dụng thấp là những điểm mạnh của Carens khi so với một Innova già nua hay Zinger thô cứng.

Không riêng gì Carens, Kia đã tạo ra một trào lưu, nhất là giới trẻ, trong sở hữu và sử dụng xe lần đầu. Đánh vào tâm lý tiêu dùng bằng thiết kế hiện đại, nhiều trang bị và giá thành dễ chịu, các mẫu xe của tập đoàn sản xuất ô tô lớn nhất Hàn Quốc dần chiếm được thị phần truyền thống mà người Việt đã dành cho xe Nhật bấy lâu nay. Có thể sự thay đổi này chưa khẳng định được điều gì, nhưng nó cũng cho thấy nhà sản xuất mới nổi này đã nắm được nhu cầu đổi mới của người trẻ trong chuyện chọn cho mình một phương tiện đi lại hợp với sở thích và tính cách. Và chúng ta dễ dàng nhìn thấy một gia đình trẻ trên chiếc Carens mà hiếm khi thấy đó là người đứng tuổi.

Sau hơn 4 năm góp mặt tại thị trường Việt Nam, dù không có nhiều nét đột phá trong thiết kế như những mẫu xe anh em trong gia đình Kia, Carens vẫn có doanh số bán ra khá ấn tượng trong phân khúc xe đa dụng 7 chỗ. Tuy nhiên khi đặt Kia Carens vào phân khúc này, nhìn lại vẫn có gì đó chưa ổn. Trên thế giới, cùng với cái tên gọi khác là Rondo, Carens chỉ được xếp vào mẫu xe 5+2 (hai ghế sau cùng chỉ dành cho trẻ em) chứ không hoàn toàn là MPV 7 chỗ, và danhgiaXecũng đồng quan điểm với sự phân hạng này. Đặt trong dòng xe 5+2, tại thị trường Việt Nam, Kia Carens dường như không có đối thủ nào. Nếu “du di”, chỉ có Nissan Grand Livina có những nét tương đồng nhất. Hai mẫu xe mang tính “địa phương” - vốn chỉ có mặt tại thị trường Đông Nam Á và một số nước thuộc thế giới thứ 3 - là Innova và Zinger, khi mang ra so sánh, chỉ giống nhau ở chỗ có thể chở nhiều người. Với Ford Everest hay Toyota Fortuner, đặt Carens cùng “mâm” xem ra có phần khập khiễng. Còn lại, mẫu xe Chevrolet Orlando lại càng thể hiện ưu thế hơn, không chỉ về thương hiệu mà còn là công nghệ.

Phải chăng Kia Carens được khách hàng ưu ái? Hãy cùng tìm câu trả lời trong

Ngoại thất

Như đã nói, Carens là mẫu xe không có nhiều điểm nổi bật trong thiết kế ngoại thất – điều mà Kia luôn thể hiện ở các mẫu xe mới. Nhớ lại thời điểm những chiếc Carens đầu tiên xuất hiện trên thị trường, một số người chỉ bị cái lạ lẫm chưa từng gặp của nó thu hút. Gầm thấp không hơn những chiếc sedan là bao; độ cao tổng thể vừa phải nhưng phần dành cho cửa kính lại khá nhiều. Còn lại các góc, nắp capo, lưới tản nhiệt, cản trước …đều đơn giản. Cặp đèn pha lớn “bất thường” với gương cầu cũng không đủ đặc sắc để làm điểm nhấn cho phần đầu xe.

Trái ngược với vẻ tròn trịa của đằng trước, thiết kế phần đuôi Carens “đáp trả” bằng các gờ nổi cắt góc của bộ đèn hậu đặt dọc, cản gấp sắc nét liền với cửa sau và đèn báo thắng trên cao. Tuy nhiên, vẻ chật chội của cốp lại bộc lộ khi mặt kính cửa phía sau được đặt nghiêng hơi nhiều. Điều này khiến chiều cao và bề ngang phía sau của Carens thấp và hẹp hơn hẳn kích thước 1,65 và 1,82m mà nhà sản xuất công bố.

Cho một cái nhìn tổng thể từ bên hông xe, Kia Carens không dấu được những chi tiết ch

Nội thất

Nhắm đến khách hàng là các gia đình trẻ, nội thất Carens là sự tiện dụng cho cả các thành viên chứ không tập trung vào tính năng đặc biệt nào. Gần như toàn bộ nội thất được bọc nỉ cùng một số chi tiết bằng nhựa mềm hay cao su như những chiếc xe bình dân khác. Nếu khó chịu vì chất liệu nỉ, bạn phải bỏ ra thêm khoảng 10 triệu bọc lại bộ ghế da cho sạch và sang trọng hơn.

Ở vị trí ghế lái cho tầm quan sát rộng. Cùng với gương chiếu hậu lớn, cột A vừa phải nên càng giúp tài xế dễ kiểm soát phía trước và hai bên.

Hàng ghế đầu và thứ hai khá rộng cho người lớn. Tuy nhiên, nếu sử dụng hàng ghế thứ 3, dù đó là trẻ em dưới 12 tuổi, sẽ khuyết hẳn chỗ để hành lý. Chính sự bất tiện này đã khiến Carens không thể đáp ứng những chuyến đi xa cho đủ 7 người cùng hành lý. Lúc này giải pháp duy nhất là ráp thêm chiếc baga mui. Trong trường hợp phải chở người lớn ở hàng ghế thứ 3, sự gò bó không chỉ ở chiều rộng mà còn là chiều cao của ghế này chắc chắn sẽ làm hành khách khó chịu và mệt mỏi. Đây cũng chính là cơ sở mà danhgiaXe cùng quan điểm xếp Carens vào hạng xe 5+2 chứ không hoàn toàn là 7 chỗ như đã nói ở trên.

Nếu được lựa chọn, đừng băn khoăn vì sự phí phạm chỗ ngồi, bạn nên gập hàng ghế thứ 3. Với không gian này, bạn sẽ không phải lo lắng dù đó là chiếc nôi hay xe đẩy dành cho em bé cùng những va ly hành lý lớn cho đủ 5 người. Thậm chí khi cần, những hành lý ngoại cỡ cũng được thu xếp ổn thỏa.

Thiết bị tiện nghi & an toàn

Là mẫu xe giá rẻ dành cho gia đình, Kia chỉ dành cho Carens những tiện nghi phổ thông nhất với ghế nỉ, vô lăng điều chỉnh cơ tích hợp nút chỉnh âm thanh, đèn pha có gương cầu nhưng không trang bị bóng xenon mà dùng bóng thường, mâm 17 inch.

Cửa sổ trời được chỉnh điện nhưng một số thiết bị khác chỉnh hoàn toàn bằng tay gồm cả ghế lái, gập gương hậu điều hòa... Ngoài ra, Carens còn có dàn âm thanh tích hợp cổng cắm đa phương tiện, hệ thống chống trộm…

Thắng tay chuyển xuống dưới chân trái là một trang bị mà Kia lấy từ các dòng xe cao cấp, được khách hàng ủng hộ. Không chỉ tạo dễ thao tác, an toàn hơn, mà còn tạo khoảng trống cho các hộc chứa ly, chai nước.

Phiên bản Carens 2010 chỉ có một túi khí cho người lái. Từ đời 2011 mới được trang bị hai túi khí ở hàng ghế trước. Hệ thống chống bó cứng phanh ABS trên 4 đĩa là trang bị an toàn còn lại có trên Carens. Các trang bị này cho thấy, Kia chỉ cho Carens 2010 sở hữu độ an toàn ở mức tối giản nhất, dù đây là một mẫu xe ra đời chưa lâu và những đòi hỏi về an toàn luôn đề cao.

Vận hành & cảm giác lái

Đòi hỏi một sự vận hành thú vị hay bứt phá là điều quá sức với một mẫu xe gia đình có động cơ 2 lít như Carens. Sinh ra để đáp ứng yêu cầu ở mức đơn giản là phương tiện “đi đến nơi, về đến chốn”, mẫu xe này “đóng” khá “tròn vai”.

Theo nhà sản xuất công bố, động cơ xăng 2.0L 4 xy lanh thẳng hàng của Carens đạt công suất 145 sức ngựa và mô men xoắn cực đại là 189 Nm. Với 5 người và hành lý nhẹ trên xe, động cơ hoạt động ổn định và “tự tin” ở cả trong đô thị và trên đường dài. Tuy nhiên hệ thống giảm xóc khá yếu và gầm không ổn định. Chỉ cần tải đủ 7 người hay phải chở lượng đồ đạc cho một chuyến đi dài của 5 người, hệ thống giảm xóc, gầm… sẽ thể hiện sự quá tải. Điển hình nhất là cầu sau sẽ bị lún xuống khá nhiều, gầm sẽ thấp và có nguy cơ bị cạ mỗi khi đi qua đoạn đường xấu. Dù vậy, nếu chú ý hơn đến chuyện này và xe được chăm chút tốt, đương nhiên nó sẽ không để bạn phải bận tâm khi chọn làm người đồng hành. Động cơ “uống” ít nhiên liệu, các chi tiết cơ-điện tử ổn định, ít hỏng vặt… là những ưu điểm không thể không nhắc đến khi nói về Kia Carens.

Có vẻ như muốn giữ quan điểm: phục vụ gia đình theo cách đơn giản nhất, Carens dễ điều khiển, đôi khi lại có cảm giác lái hơi tẻ nhạt. Vô lăng được trợ lực dầu nên không nhẹ như các dòng trợ lực điện. Dù hơi “chặt” khi đi trong phố, nhưng hệ thống trợ lực này sẽ cho cảm giác lái thật hơn, giúp người điều khiển làm chủ tốc độ mỗi khi đánh vô lăng ở tốc độ nhanh.

Nhìn vào công suất mà động cơ thể hiện, Carens không hề yếu. Ngược lại, nó nằm trong top đầu của các mẫu xe gia đình cùng dung tích máy 2 lít, cao hơn cả động cơ 2,4 lít mà Mitsubishi đang gắn trên Zinger. Kết hợp với hộp số tự động 4 cấp, không mất nhiều thời gian để đưa vận tốc đạt 60 km/h. Nhờ trọng tâm thấp nên dù duy trì liên tục ở tốc độ 80 km/h, Carens ít chao lắc, tạo thêm tự tin cho người đang ngồi sau vô lăng.

Cũng cần nói về độ ồn của Carens khi đi nhanh hay vào những khúc đường xấu: phiên bản nhập khẩu có độ cách âm và ổn định hơn hẳn bản tương tự có tên New Carens mà Trường Hải lắp ráp. Đây dường như là đặc điểm dễ nhận biết nhất khi đem so sánh một mẫu xe lắp ráp trong nước và nhập khẩu.

Đánh giá tổng quát

Nằm trong phân khúc xe 7 chỗ, vốn đang là thị phần có sự cạnh tranh của không ít hãng tại Việt Nam. Tuy nhiên, dù Toyota đã chiếm lĩnh từ lâu, Kia không ngần ngại cạnh tranh bằng chính nội lực mà mình có: rẻ, dễ sử dụng và ngày càng phổ thông bằng sự ổn định. Có thể nói, nếu thời gian chứng minh được ưu điểm bền bỉ, Carens sẽ sớm giành về cho mình những tín đồ của Toyota – những người đang có xu hướng chê hãng xe Nhật Bản chậm đổi mới mẫu mã và giá thành ngày một cao.

Dưới góc độ của người sử dụng, sau gần hai năm gắn bó với Carens, chủ chiếc xe trên khá hài lòng với nó. Theo anh, Carens có các ưu điểm như giá hợp lý, ít hỏng vặt, bảo trì, bảo dưỡng rẻ và phù hợp với gia đình.

Thế hệ tiếp theo của mẫu Carens (đời 2013) vừa được Kia giới thiệu. Cùng với sự quyết tâm bành trướng ra các thị trường mới, nhiều tiềm năng mà hãng xe Hàn Quốc đang làm trên khắp thế giới, đây là một tin mừng đối với những gia đình trẻ, những người có nhu cầu mua xe trong thời gian tới. Tuy nhiên, danhgiaXe vẫn có một băn khoăn khi các thiết bị bảo đảm an toàn chưa được Kia đầu tư đúng mức cho một mẫu xe gia đình – nhất là phiên bản dành cho thị trường nhỏ và dễ tính như Việt Nam. Hy vọng, trong những năm tới, khi ô tô trở thành phương tiện giao thông phổ biến hơn, các hãng sẽ phải chú ý sự an toàn của mẫu xe rất quan trọng này.

Sau khi tham khảo ý kiến toàn bộ nhóm đánh giá, chúng tôi quyết định đánh giá thang điểm của Kia Carens 7.0/10

  • •  Kiểu dáng 7
  • •  Vận hành 7
  • •  Tiện nghi 7
  • •  An toàn 7
  • •  Giá cả 7

7.0
điểm tổng quát

"Chúng tôi luôn cố gắng đưa ra những đánh giá khách quan nhất có thể. Tuy nhiên, dù sao đi nữa đây cũng chỉ là đánh giá mang tính cá nhân của một nhóm đánh giá. Tiếng nói của người tiêu dùng mới là đánh giá chính xác nhất, nếu bạn đang sử dụng xe Kia Carens, hãy chia sẻ nhận định của mình với mọi người..."

Thông số kỹ thuật KIA Carens 2010

  KIA Carens 2.0 AT 2010
594 triệu
KIA Carens 2.0 AT 2010
594 triệu
KIA Carens 2.0 MT 2010
574 triệu
Xuất xứ Lắp ráp trong nước Lắp ráp trong nước Lắp ráp trong nước
Dáng xe Xe 7 chỗ đa dụng Xe 7 chỗ đa dụng Xe 7 chỗ đa dụng
Số chỗ ngồi 7 7 7
Số cửa 5 5 5
Kiểu động cơ Xăng I4 Xăng I4 Xăng I4
Dung tích động cơ 2.0L 2.0L 2.0L
Công suất cực đại 145 mã lực, tại 6.300 vòng/phút 145 mã lực, tại 6.300 vòng/phút 145 mã lực, tại 6.300 vòng/phút
Moment xoắn cực đại 188Nm, tại 4.250 vòng/phút 188Nm, tại 4.250 vòng/phút 188Nm, tại 4.250 vòng/phút
Hộp số Tự động 4 cấp Tự động 4 cấp Số sàn 5 cấp
Kiểu dẫn động Cầu trước Cầu trước Cầu trước
Tốc độ cực đại 220km/h 220km/h 220km/h
Thời gian tăng tốc 0-100km/h 11,20 11,20
Mức tiêu hao nhiên liệu 7l/100km l/100km 7l/100km
Thể tích thùng nhiên liệu 55L 55L 55L
Kích thước tổng thể (mm) 4.545x1.820x1.650 4.545x1.820x1.650 4.545x1.820x1.650
Chiều dài cơ sở (mm) 2.700 2.700 2.700
Khoảng sáng gầm xe (mm) 140 140 156
Bán kính quay vòng tối thiểu (m) 5,30 5,30 5,30
Trọng lượng không tải (kg) 1.417 1.417 1.417
Hệ thống treo trước Kiểu McPherson, lò xo cuộn, thanh chống trượt Kiểu McPherson, lò xo cuộn, thanh chống trượt Kiểu McPherson, lò xo cuộn, thanh chống trượt
Hệ thống treo sau Đa điểm, thanh chống trượt Đa điểm, thanh chống trượt Đa điểm, thanh chống trượt
Hệ thống phanh trước Đĩa Đĩa Đĩa
Hệ thống phanh sau Đĩa Đĩa Đĩa
Thông số lốp 225/50R17 225/50R17 225/50R17
Mâm xe Hợp kim 17" Hợp kim 17" Hợp kim 17"
Đời xe 2010 2010 2010
Chất liệu ghế
Chỉnh điện ghế
Màn hình DVD
Bluetooth
Loa
Điều hòa
Nút điều khiển trên tay lái
Cửa sổ trời
Gương chiếu hậu chỉnh điện
Star stop engine
Số lượng túi khí
Phanh ABS
Hỗ trợ phanh khẩn cấp BA
Hệ thống phân bổ lực phanh EBD
Hệ thống cân bằng điện tử ESP
Hệ thống ổn định thân xe VSM
Cảm biến lùi
Camera lùi

Đánh giá của bạn

Bạn chưa đăng nhập !
Hãy đăng nhập hoặc đăng ký để viết bình luận.
Dòng xe KIA Carens 2010 được chấm 4/5 điểm trên 4 bình chọn Giá từ 574.000.000đ đến 594.000.000đ
inline